Giáo dục tại Việt Nam

vietnam-map-02 Toàn cảnh về Việt Nam

Các ngành sản xuất, công nghệ thông tin và những ngành công nghiệp công nghệ cao đang đang ngày một tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu lớn trong nền kinh tế quốc dân. Tuy vậy, Việt Nam vẫn đang thiếu hụt lượng kĩ sư và quản lý chuyên môn cao, và điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của những lĩnh vực trên. Thống kê cho thấy có tỷ lệ lớn các kĩ sư địa phương thiếu hụt hiểu biết về các công nghệ thông tin mới nhất và ngoại ngữ, đồng thời một lượng lớn các quản lý cấp trung thiếu kĩ năng cần thiết trong các lĩnh vực tài chính, giao tiếp cá nhân và quản lý lao động. Vì vậy, chính phủ Việt Nam đã và đang triển khai hàng loạt các chương trình đào tạo kỹ năng đầu tư cho lực lượng lao động của Việt Nam. Ngành du lịch- khách sạn tại Việt Nam phát triển một cách đáng kể trong thập niên qua. Sự tăng trưởng về số lượng các chuỗi khách sạn và khu nghỉ dưỡng dọc bờ biển phía đông Việt Nam đòi hỏi cấp bách lực lượng lao động có kĩ năng và được đào tạo chuyên nghiệp có thể phục vụ cho lĩnh vực đang phát triển này. Đây chính là cơ hội cho những tổ chức giáo dục trong ngành công nghiệp du lịch- khách sạn.

Hệ thống giáo dục

Từ năm 1990 đến nay, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chịu trách nhiệm giám sát hầu hết tất cả các khía cạnh của hệ thống giáo dục Việt Nam, bao gồm các quy định cho cơ sở đào tạo mới, viết sách giáo khoa và chương trình giảng dạy, quyết định chỉ tiêu đầu vào cũng như cấp văn bằng chứng chỉ. Chỉ có một số cơ quan đặc biệt chịu sự giám sát của các Bộ khác, còn lại hầu hết đều chịu sự quản lý của Bộ giáo dục.

Tuyển sinh đại học dựa trên kết quả của kỳ thi quốc gia được thực thi tại các trường đại học và cao đẳng. Mỗi trường đại học ấn định điểm tuyển tuyển sinh đầu vào cho riêng mình. Dựa theo số liệu từ Bộ giáo dục và đào tạo, có 1.4 triệu học sinh đăng ký thi năm 2014, trong đó 1.2 triệu ứng tuyển vào đại học, còn 258,000 ứng tuyển vào cao đẳng. Hiện tại trên toàn quốc có 234 trường đại học công lập và 185 trường cao đẳng công với chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 600,000 sinh viên. Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu nhiều hơn đáng kể so với nguồn cung trong nước có thể đáp ứng được.

Hiện tại, có tổng cộng 419 trường đại hoc và cao đẳng công lập đang hoạt động tại Việt Nam, với 234 trường đại học bao gồm các trường đại học tổng hợp, cao đẳng và học viện, 185 trường cao đẳng bao gồm cao đẳng nghề và các trung tâm dạy nghề. Bên cạnh các trường công lập còn có các trường đại học bán công và đại học dân lập hoạt động và thu học phí độc lập.

Theo chỉ số năm 2012 của chính phủ, khối trường dân lập chiếm tới 20% tổng số và 15% số sinh viên đăng ký. Nhìn chung, các trường đại học dân lập được cho là chất lượng giáo dục thấp hơn so với các trường đại học công lập. Hầu hết các trường đại học đều thuộc sự quản lý của các Bộ, tuy vậy số lượng các trường dân lập ngày càng tăng qua các năm.

Những xu hướng giáo dục quốc tế

Hiện tại có khoảng 400 chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài tại Việt Nam. Nhu cầu cho các khoá học tiếng Anh tăng lên đáng kể. Trong số 11 quốc gia thuộc khối ASEAN, Việt Nam có lượng sinh viên du học nước ngoài hằng năm cao nhất. Điểm đến du học cho sinh viên Việt Nam năm 2014 là Australia, Mỹ, Nhật Bản. Trung Quốc, Singapore, Pháp, Đài Loan và Anh cũng là những lựa chọn phổ biến.

Thống kê thị trường:

  • Dân số đông – 90 triệu dân năm 2014, ước tính tăng hơn 100 triệu người vào năm 2020
  • Dân số trẻ - Hơn 40% dân số dưới độ tuổi 25
  • Tầng lớp trung lưu đang phát triển  - Sự phát triển vượt bậc trong lớp trung lưu - họ quan tâm hơn đến việc đầu tư vào tương lai của con cái.
  • Tiềm năng du học - Hơn 125,000 sinh viên đang học tại nước ngoài năm 2014
  • Đầu tư của chính phủ - Chính phủ đầu tư đáng kể vào giáo dục, đặc biệt các chương trình học bổng chính phủ.
  • Tư duy quốc tế - Các trường đại học Việt Nam mong muốn hợp tác với các đối tác nước ngoài nhằm đưa trường lên tiêu chuẩn quốc tế.